Kỳ 1: THÔ SƠ ĐỐI ĐẦU HIỆN ĐẠI

Trong đội hình của Đội 8 Công binh Hải quân, có 7 cán bộ, chiến sỹ đã bị quân đội Mỹ bắt làm tù binh khi chiếc thuyền đưa họ làm nhiệm vụ huấn luyện dò gỡ thủy lôi bị máy bay, tàu chiến Mỹ bắn chìm ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ năm 1967. Một năm sau, họ được trao trả. Nhân dịp này, chúng tôi đã tìm gặp được một vài người để tìm hiểu thêm về họ.

Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp được là ông Hoàng Văn Huê ở xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đến giờ, ông Huê cũng chẳng còn nhớ ngày ông bị bắt là ngày nào nữa nhưng so với những người chúng tôi gặp sau đó thì ông Huê là người còn nhớ tương đối kỹ về quá khứ.

Hiểm nguy dưới biển

Hồi ấy, phân đội 8 người của Đội 8 nhận nhiệm vụ khảo sát luồng vào cho tàu từ cửa Nam Triệu. Ông Nghinh, ông Thanh là thợ lặn của Đội 8, 6 người còn lại được điều động về từ các đơn vị khác trong Quân chủng. Phương tiện hành quân thủy là một chiếc tàu vận tải mượn của nhân dân từ Cát Hải mang về.

Thuyền ra đến ngoài của Nam Triệu thì gặp gió to và trôi dạt. Cùng lúc đó máy bay địch xuất hiện. Vì phải giả dạng tàu đánh cá và không được mang theo vũ khí nên cả 8 người chỉ biết tìm cách tránh đạn mà thôi. Ban đầu, địch phóng rốc két trúng mũi tàu. Đến lúc tàu tròng trành chưa chìm hẳn thì chúng tập trung bắn xuống phía lái tàu. Khi tàu bắt đầu chìm, tất cả anh em trên tàu bảo nhau mặc áo phao và nhảy xuống biển bám nhau theo từng cặp.

Ở dưới biển, do sóng lớn nên các cặp đều không thể nhìn thấy nhau. Còn đang trôi dạt thì ông Huê nghe ông Thanh nói: “Hình như đến bờ rồi, em chạm chân vào bãi cát rồi anh ạ!”. Ông Huê  còn chưa kịp ngạc nhiên vì đây là ngoài cửa Vịnh thì đã thấy ông Thanh chìm xuống nước. Vùng nước quanh ông bỗng nhiên đỏ sẫm. Rồi ông Thanh lại nổi lên khi chỉ còn có nửa người. Cá mập. Rồi khi nửa thi thể ông Thanh máu còn đang phun trào thì một con cá nữa lao đến mang ông Thanh đi mất.

Triển lãm bom mìn, thủy lôi của đế quốc Mỹ thả xuống sông biển miền Bắc tại Bảo tàng Công binh.

7 người còn lại gọi to thông báo cho nhau. Họ dần tập hợp lại và gần như không cử động để tránh bầy cá mập có thể trở vào. Cứ bồng bềnh như thế, đến tận 3 ngày sau thì xuất hiện 3 chiếc tàu của địch xuất hiện bao vây mọi người. Các tàu này thả nhiều chiếc xuồng xuống và áp giải mọi người lên tàu.

Mọi người bị lột truồng hết áo quần, bị chụp ảnh và sau đó bị nhốt chung vào 1 phòng trên 1 con tàu. Đói, rét nhưng mọi người vẫn cố gắng ôm lấy nhau thành một khối để chống chọi và thống nhất với nhau là khi bị tra khảo chỉ được nhận là công nhân đảo đèn Hòn Dấu đang kiểm tra các phao luồng thì gặp nạn, còn khi được hỏi tên thì phải khai tên khác để tránh tình báo địch điều tra ra lực lượng của ta.

Căng thẳng trong tù

Hơn 1 tuần ở trên tàu, các ông bị đưa về trại giam. Đó có thể là khu giam giữ tạm thời của Mỹ trên đỉnh Sơn Trà bởi đến nay, ông Huê chỉ nhớ mang máng khi ấy ngồi ô tô là toàn vòng vèo lên dốc. Còn sau này, những lúc chúng lấy khăn bịt mắt đưa các ông xuống cảng ép làm lao công, khi mở khăn ra các ông mới đoán đó là cảng quân sự Đà Nẵng mà thôi.

Ở trong tù, đầu tiên các ông bị giam riêng biệt để hỏi cung. Chúng cho rằng các ông chính là lực lượng của Hải quân miền Bắc đi do thám bờ biển miền Nam nên dùng nhiều phương cách để tra khảo. Chúng cũng rất muốn biết về lực lượng, trang bị của Hải quân nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, do có sự thống nhất trước nên mọi người cùng trả lời thống nhất và thề với nhau dù có bị hy sinh cũng không khai ra nhiệm vụ được giao.

Cũng theo ông Huê thì thời gian ở tù quân đội Mỹ là những tên trực tiếp hỏi cung ông thông qua phiên dịch. Khi không khai thác được gì, chúng cho các ông ăn cơm nhạt không mắm muối. Anh em hắt cơm đi, dọa tuyệt thực thì bị cai ngục Mỹ đánh cả chùm chìa khóa tù vào mặt.

Cứ như thế, kiên trì đấu tranh, giữ vững chí kiên trung, không chấp nhận làm khổ sai của địch nhưng các ông cũng không định được vận mệnh của mình. Khoảng 1 năm sau, các ông được phiên dịch đến thông báo sắp được trao trả để đổi lấy những phi công Mỹ đang là tù binh của miền Bắc. Ngày các ông được chúng cấp cho một con tàu và lái vào đến Cửa Sót, Nghệ An là ngày mà các ông vui mừng trào nước mắt.

Chập chờn quên nhớ

Bị bắt ngày 21-10-1967, được thả ngày 16-12-1968, trở về với đời thường sau khi xuất ngũ, các ông mỗi người mỗi việc lo toan cho cuộc sống. Ông Đỗ Minh Khiêm có địa chỉ ở Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội giờ chúng tôi không thể tìm ra dù đã hỏi đến chính quyền các địa phương lân cận, đến Ban liên lạc Cựu chiến binh Hải quân trong khu vực. Ông Đàm Văn Thào ở Bản Rạc, xã Cò Ngàn, huyện Hạ Lạng, tỉnh Cao Bằng thì nghe đâu đã chuyển vào sống ở tận Tây Nguyên. Ông Nguyễn Thanh Lan ở xã Thạch Mỹ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh thì đã mất ngày mồng 1 tháng 6 năm 2006 theo ghi chép của ông Nguyễn Hữu Tuấn, Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà khi chúng tôi tìm đến. Ông Trần Thiện Tiếu đang ở xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông Bùi Văn Phấn đang ở xã Bạch Đằng, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Ông Nguyễn Văn Nghinh ở thành phố Nam Định thì đang mang đầy đủ chứng bệnh của 6 người đồng đội khi từ chốn ngục tù về: Hay quên, đang nói phải ngưng lại vì đau đột ngột ở ngực, có lúc tính cách sôi nổi rồi lại phiền não ngay sau đó. Các ông đều nói rằng trước khi được trao trả, trại tù đã tiêm cho các ông một liều thuốc gì đó. Phải chăng đó là nguyên nhân để cả trí và lực của các ông bây giờ ngày càng sa sút.

Người ta bảo trẻ thì hay nói chuyện tương lai, già thì hay nhắc về quá khứ. Nhưng với các ông, quá khứ về bản thân cũng chẳng còn nguyên vẹn nữa. Sự chập chờn quên lãng của các ông khiến chúng tôi càng không dám hỏi nhiều về các ông. Chỉ hy vọng rằng, mỗi khi những ký ức của các ông được gọi về, nếu là ký ức đẹp sẽ giúp các ông mạnh mẽ hơn ở cuộc sống tuổi già, nếu là ký ức buồn sẽ là một lần để các ông răn dạy con cháu mình về hạnh phúc của thời bình và cái giá của mỗi cuộc chiến tranh.

 

Bài và ảnh: NGUYỄN TOÀN

 Kỳ 1: THÔ SƠ ĐỐI ĐẦU HIỆN ĐẠI